Home » Sống khỏe » Thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, chủ yếu ở người trưởng thành.

Thoái hóa khớp là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, chủ yếu ở người trưởng thành. Bệnh xảy ra do quá trình lão hóa phần sụn đệm giữa hai đầu xương, quanh khớp, xung quanh khớp kèm theo phản ứng viêm và giảm thiểu lượng dịch nhầy (loại giúp bôi trơn ma sát ở điểm nối giữa hai đầu).

thoai-hoa-khop

Thoái hóa khớp là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, chủ yếu ở người trưởng thành

Bệnh có biểu hiện lâm sàng bởi đau khớp và cột sống mạn tính. Tổn thương cơ bản là tình trạng thoái hóa của sụn và đĩa đệm, những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch.

Thoái hóa khớp làm giảm chất lượng cuộc sống cả về thể chất lẫn tinh thần. Hệ quả của thoái hóa khớp là mất chức năng vận động của khớp, trong đó thoái hóa khớp gối là nguyên nhân hàng đầu của phẫu thuật thay khớp.

Nguyên nhân thoái hóa khớp

Hiện ngay nguyên nhân chính xác của thoái hóa khớp vẫn chưa được xác định chính xác. Đây là một bệnh phức tạp với đặc điểm chính của bệnh là tổn thương sụn khớp dẫn đến tổn thương toàn bộ cấu trúc khớp. Có một số nguyên nhân chính sau:

–          Thoái hóa khớp có thể do viêm khớp dạng thấp hoặc do chấn thương (trật khớp tái đi tái lại nhiều lần), trường hợp thoái hóa khớp phụ thuộc vào tuổi tác, tình trạng thừa cân (béo phì), những chấn thương nhẹ hoặc chấn thương gây mạn tính ở khớp.

–          Thoái hóa khớp còn do sự kết hợp với tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp.

thoai-hoa-khop

Đây là một bệnh phức tạp với đặc điểm chính của bệnh là tổn thương sụn khớp dẫn đến tổn thương toàn bộ cấu trúc khớp.

Trong nguyên nhân gây thoái hóa khớp, có một số nguyên nhân không thể can thiệp và có thể can thiệp.

Yếu tố nguy cơ không thể can thiệp:

–          Tuổi, giới tính: tần suất và tỷ suất mắc bệnh thoái hóa khớp tăng 2 đến 10 lần ở độ tuổi 65 so với độ tuổi 30 và tiếp tục tăng nhanh sau đó. Ở những người dưới 50 tuổi, nam bị thoái hóa khớp nhiều hơn nữ nhưng sau 50 tuổi thì nữ giới mắc bệnh thoái hóa khớp nhiều hơn nam. Ảnh hưởng chủ yếu ở các khớp gối, bàn tay.

–          Di truyền: thoái hóa khớp là bệnh có tính di truyền, biểu hiện qua hiện tượng bệnh có tính cách gia đình. Còn ở người bệnh có thoái hóa nhiều khớp hay thoái hóa khớp toàn thân thì không do yếu tố di truyền mà liên quan đến yếu tố tuổi.

Yếu tố nguy cơ có thể can thiệp:

–          Thừa cân (béo phì): là yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng quan trọng đến tần suất và diễn biến của bệnh thoái hóa khớp. Người béo phì có nguy cơ bị thoái hóa khớp cao hơn người không béo phì, ảnh hưởng này thấy rõ ở nữ hơn là ở nam. Đồng thời béo phì còn làm tăng độ nặng của bệnh, và giảm cân nặng sẽ làm giảm nguy cơ tiến triển của bệnh.

–          Hormone: tần suất thoái hóa khớp tăng nhanh sau tuổi mãn kinh. Thiếu estrogen ở nữ có thể là một yếu tố nguy cơ thoái hóa khớp.

–          Dinh dưỡng: người có nồng độ vitamin D trong máu thấp có nguy cơ bị thoái hóa khớp tại khớp gối, khớp hang, đồng thời tăng tần suất mới mắc cũng như tiến triển của bệnh. Người có nồng độ vitamin C cao ít có nguy cơ tiến triển thoái hóa khớp do với người có nồng độ thấp.

–          Hoạt động thể lực quá mức là yếu tố nguy cơ thoái hóa khớp gối và nguy cơ này tỉ lệ thuận với cường độ, thời gian hoạt động. Nữ trẻ tuổi hoặc trên 50 tuổi, nếu hoạt động nhiều sẽ tăng nguy cơ thoái hóa khớp khi lớn tuổi.

–          Nghề nghiệp: một số nghiên cứu trước đây cho thấy có mối tương quan giữa yếu tố nghề nghiệp, sử dụng khớp quá mức với tần suất thoái hóa khớp. Nông dân có nguy cơ thoái hóa khớp cao gấp 2 lần so với tần suất trung bình trong dân số.

–          Yếu tố tại chỗ như chấn thương được xác định là yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp gối. Ngoài ra, các bệnh lý khớp viêm mãn tính như viêm khớp dạng thấp, gout cũng thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa khớp.

thoai-hoa-khop

Tần suất và tỷ suất mắc bệnh thoái hóa khớp tăng 2 đến 10 lần ở độ tuổi 65 so với độ tuổi 30 và tiếp tục tăng nhanh sau đó.

Triệu chứng thoái hóa khớp

–          Tùy theo vị trí khớp bị thoái hóa mà có các triệu chứng đặc thù, nhưng hầu hết thoái hóa khớp luôn có triệu chứng đau ở vị trí khớp bị thoái hóa (đau mỏi thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng; đau mỏi khớp gối do thoái hóa khớp gối,…).

–          Triệu chứng đau thường xuất hiện vào sáng sớm, nhất là lúc vừa ngủ dậy. Thường  đau ở phần tiếp nối giữa hai đầu xương. Càng vận động càng đau nhiều. Đau có tính chất đối xứng, có tính chất cơ giới, tăng khi vận động, giảm khi nghỉ. Đau thường là âm ỉ, tăng từng đợt khi mang vác nặng, sai tư thế, khi mệt mỏi, căng thẳng thần kinh, thay đổi thời tiết. Đau thường xuất hiện sớm ở những khớp chịu lực (khớp gối, khớp cổ chân, cột sống thắt lưng, cột sống cổ). Có thể có phản ứng tiết dịch gây tràn dịch khớp, thường gặp ở khớp gối.

–          Triệu chứng cứng khớp cũng dễ xuất hiện. Cứng khớp đôi khi chỉ một vài khớp bị thoái hóa nhưng đau khớp. Đau theo kiểu cơ giới, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi, vị trí thường đau đối xứng hai bên, khu trú ở khớp hay đoạn cột sống bị thoái hóa ít lan xa, trừ khi có chèn ép vào đêm và sáng sớm.

–          Nếu có nhiều khớp bị thoái hóa  thì hiện tượng cứng khớp càng rõ rệt hơn. Khi bị thoái hóa khớp thì xuất hiện tiếng lạo xạo khi co duỗi khớp (khớp gối, cổ chân, cổ tay, bàn tay…). Khi xuất hiện cảm giác nóng hoặc hiện tượng đỏ, sưng tại các khớp nghĩa là thoái hóa khớp đi kèm một căn bệnh khác.

thoai-hoa-khop

Thoái hóa khớp luôn có triệu chứng đau ở vị trí khớp bị thoái hóa.

Hậu quả của thoái hóa khớp còn là biến dạng khớp, tuy xảy ra chậm chủ yếu do hiện tượng mọc thêm xương, phù nề tổ chức quanh khớp, lệch trục khớp, thoát vị hoạt dịch khớp. Khi đã biến dạng khớp sẽ gây hạn chế vận động, co cứng cơ cạnh cột sống, cơ thang. Đối với cột sống thắt lưng khi bị thoái hóa sẽ có nguy cơ gây chèn ép gây đau thần kinh tọa và đau dọc theo dây thần kinh làm tê chân, xấu hơn nữa là bị tàn phế.

Phòng bệnh thoái hóa khớp

–          Điều chỉnh cân nặng ở trọng lượng lý tưởng, tránh thừa cân, béo phì.

–          Tránh các tác động quá mạnh, đột ngột, tránh sai tư thế khi mang vác nặng.

–          Đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đặc biệt bổ sung vitamin D, vitamin C và canxi vào khẩu phần ăn hằng ngày.

–          Tránh các tư thế xấu trong sinh hoajg và lao động hằng ngày như gập gối, leo trèo, đứng nhiều, đảm bảo vệ snh và an toàn lao động để giảm các lực tỳ đè lên sụn khớp.

–          Cố gắng tập thể dục hằng ngày và không nên tập quá sức.

–          Phát hiện và điều trị sớm các dị tật, các di chứng của chấn thương, các bệnh lý tại khớp và cột sống.

Điều trị thoái hóa khớp

Điều trị thoái hóa khớp nhằm mục đích giảm đau, duy trì vận động khớp làm chậm tiến triển của bệnh. Khi có biểu hiện của bệnh thoái hóa khớp, người bệnh nên đến các chuyên khoa cơ xương khớp để thăm khám. Việc phát hiện và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu cơn đau và nguy cơ tàn phế. Các phương thức điều trị bao gồm nội khoa (dùng thuốc, không dùng thuốc) và ngoại khoa (phục hồi hay thay khớp).

Điều trị nội khoa không dùng thuốc:

–          Biên pháp chung tránh cho khớp bị quá tải bởi lực đè bằng cách giảm cân, giảm các vận động chịu tải như mang vác nặng, quỳ gối, chạy nhảy. Người bệnh cần điều chỉnh cách sống phù hợp.

–          Vật lý trị liệu: bao gồm các biện pháp massage, kích thích cơ, các biện pháp dùng nhiệt lượng như hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân,… có tác dụng giảm đau, điều chỉnh tư thế xấu, duy trì dưỡng cơ và các mô cạnh khớp, giúp cải thiện chức năng vận động của khớp.

–          Dụng cụ chỉnh hình khớp: mang nẹp khớp giúp giữ trục khớp và giảm đau.

Điều trị nội khoa dùng thuốc:

Việc dùng thuốc bệnh nhân cần phải có chỉ định của bác sĩ, tùy vào cơ địa, độ nặng của bệnh, bệnh lý kèm theo để có cách điều trị hợp lý.

thoai-hoa-khop

Việc dùng thuốc bệnh nhân cần phải có chỉ định của bác sĩ, tùy vào cơ địa, độ nặng của bệnh, bệnh lý kèm theo để có cách điều trị hợp lý.

–          Sử dụng các thuốc giảm đau thông thường như paracetamol hoặc paracetamol kết hợp codein. Đây là sự lựa chọn đầu tiên để sử dụng lâu dài, nếu có hiệu quả.

–          Khi không hiệu quả, có thể phối hợp thêm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) toàn thân (uống hoặc tiêm), hoặc bôi tại chỗ. Tuy nhiên sự lạm dụng thuốc này sẽ dẫn đến nhiều tác dụng phụ tai hại như đau dạ dày, xuất huyết tiêu hóa.

–          Chích vào khớp là một biện pháp điều trị đặc biệt, do bác sĩ chuyên khoa khớp chỉ định, thực hiện và theo dõi tại những cơ sở y tế có đủ điều kiện kỹ thuật. Chích corticosteroid được chỉ định trong trường hợp viêm, tràn dịch khớp nặng, lưu ý phươg pháp này không sử dụng trong những trường hợp khớp bị thoái hóa nặng. Chích hyaluronic acid được chỉ định trong thay thế dịch khớp để bôi trơn và làm giảm đau, điều trị bảo tồn trong lúc chờ đợi thay khớp.

–          Thuốc làm chậm tiến triển của bệnh (slow-acting drugs for osteoarthritis hay SADOA) bao gồm hyaluronic acid, D-glucosamine sulphate, chondroitin sulphate, và diacerein. Hiệu quả của các thuốc này chưa rõ ràng, và hướng dẫn điều trị của Hội Thấp khớp Mỹ ACR 2012 đã khuyến cáo không sử dụng hyaluronic acid, D-glucosamine sulphate, chondroitin sulphate trong điều trị thoái khớp.

–           Nhóm thuốc chế phẩm sinh học ức chế TNF-α và enzyme kháng viêm interleukin IL-4, IL-10, IL-13, TNF-β có tiềm năng làm chậm được tiến triển của bệnh, nhưng còn đang trong vòng nghiên cứu.

 

Bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc có gắn dấu *

*